Tìm Hiểu Cá Sấu Sông Nin Và Cá Sấu Trung Mỹ Khác Nhau Như Nào

Cá sấu là các loài thuộc họ Crocodylidae đôi khi được phân loại như là phân họ Crocodylinae. Cá sấu là các loài bò sát lớn ưa thích môi trường nước, chúng sống trên một diện tích rộng của khu vực nhiệt đới của châu Phi, châu Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Đại Dương.

Cá sấu có xu hướng sinh sống ở những vùng sông và hồ có nước chảy chậm, thức ăn của chúng khá đa dạng, chủ yếu là động vật có vú sống hay đã chết cũng như cá.

Một số loài, chủ yếu là cá sấu cửa sông ở Úc và các đảo trên Thái Bình Dương, được biết là có khả năng bơi ra xa ngoài biển.

Những loài cá sấu lớn có thể rất nguy hiểm đối với con người. Cá sấu cửa sông và cá sấu sông Nin là những loài nguy hiểm nhất, chúng đã giết chết hàng trăm người mỗi năm ở các khu vực Đông Nam Á và châu Phi.

Cá sấu mõm ngắn và có thể cả cá sấu caiman đen là loài đang nguy cấp trong sách đỏ của IUCN cũng là những loài gây nguy hiểm cho con người.

Cá Sấu Trung Mỹ

Cá Sấu Trung Mỹ

Cá sấu Trung Mỹ danh pháp khoa học: Crocodylus acutus là loài cá sấu trong họ Crocodylidae. Loài này được Cuvier mô tả khoa học đầu tiên năm 1807. Chúng là động vật ăn thịt hàng đầu trong môi trường sinh sống của chúng.

Giống như tất cả các loài cá sấu khác, chúng là động vật có tứ chi, với bốn chân ngắn và bẹt; đuôi dài và khỏe, vảy che các lớp mai hóa xương chạy dọc theo lưng và đuôi và quai hàm rất khỏe.

Chúng có màng nháy để bảo vệ mắt, và mặc dù có các huyền thoại về “nước mắt cá sấu”, chúng có các tuyến lệ, nhưng chỉ dùng để tẩy rửa mắt của chúng bằng nước mắt.

Các lỗ mũi, mắt và tai nằm ở phần đỉnh của đầu chúng, vì thế các phần còn lại của cơ thể có thể che giấu dưới nước để tấn công con mồi bất ngờ. Màu sắc cũng giúp chúng ngụy trang rất tốt.

Cá sấu Trung Mỹ thông thường trườn dọc theo bụng của chúng, nhưng chúng có thể “đi bộ”. Các cá thể nhỏ hơn có thể phóng nhanh, và thậm chí cả các cá thể lớn hơn cũng có khả năng tăng tốc độ đột biến đáng ngạc nhiên.

Chúng có thể bơi khá nhanh với vận tốc 32 km/h bằng cách chuyển động cơ thể và đuôi của chúng theo đường hình sin, và chúng có thể duy trì kiểu chuyển động này khá lâu nhưng chúng không thể giữ lâu được tốc độ này.

Chúng có tim 4 ngăn, giống như chim, điều đó rất có hiệu quả trong việc chuyên chở và cung cấp ôxy cho máu của chúng. Thông thường chúng chỉ lặn trong vài phút, nhưng có thể ẩn mình dưới nước tới 30 phút nếu gặp nguy hiểm, và nếu chúng ngừng hoạt động thì có thể giữ cho hơi thở kéo dài tới 2 giờ dưới nước.

Chúng có sự trao đổi chất thuộc hệ máu lạnh, vì thế chúng có thể sống rất lâu giữa hai lần có thức ăn vì thế khi ăn, chúng có thể ăn một khối lượng thức ăn bằng một nửa khối lượng cơ thể mỗi lần.

Cá sấu Trung Mỹ được đưa vào danh sách bảo tồn như là loài đang nguy cấp năm 1975. Tại Mỹ, chúng chỉ sinh sống ở Florida.

Kích thước Cá Sấu Trung Mỹ

Kích thước Cá Sấu Trung Mỹ

Con non mới sinh có chiều dài 50 cm và khối lượng khoảng 60 g. Con trưởng thành trung bình dài 4,3 m và nặng 382 kg ở con đực, dài trung bình 3 m và nặng 173 kg ở con cái.

Tại sông Tarcoles ở Costa Rica, hàng tá cá thể dài bốn mét và một ít cá thể dài năm mét vượt cầu thường xuyên nơi chúng được cho ăn hàng ngày, có thể giúp chúng đạt được như vậy kích thước lớn nhất và là một điểm thu hút du lịch nổi tiếng.

Trong phạm vi Florida của chúng, chiều dài con trưởng thành được ghi nhận là 5,2 m, nhưng con đực trưởng thành thường có chiều dài trong bình 4,3 m Loài này được cho là phát triển lớn nhất trong các lưu vực sông ở Nam Mỹ, nhưng ngay cả con đực già cũng hiếm khi đạt 6 m.

Một hộp sọ của loài này đã được tìm dài 72,6 cm và ước tình thuộc về một con cá sấu dài 6,6 m.

Cá Sấu Sông Nin

Cá sấu sông Nin, tên khoa học Crocodylus niloticus là một loài cá sấu trong họ Crocodylidae. Loài này được Laurenti mô tả khoa học đầu tiên năm 1768.

Chúng là loài cá sấu châu Phi lớn nhất và là động vật ăn thịt thượng hạng trong khu vực sinh sống của chúng, là khu vực bao gồm phần lớn miền nam sa mạc Sahara cũng như đảo Madagascar.

Được biết đến như là động vật ăn thịt người, chúng vừa bị ghét vừa được sùng kính, đặc biệt là ở Ai Cập cổ đại khi mà các con cá sấu đã được ướp xác và tôn thờ như là thánh thần.

Trong khi chúng chưa bị đe dọa tuyệt chủng thì quần thể tại nhiều quốc gia vẫn đang bị nguy hiểm do số lượng sụt giảm.

Chuyên khảo lớn và hiện đại đầu tiên về cá sấu là Các kết quả khoa học về yêu cầu trong sinh thái học và địa vị kinh tế của cá sấu sông Nin ở Uganda của Hugh B. Cott.

Kích thước, danh tiếng, phạm vi sinh sống rộng và quan hệ với loài người của chúng vẫn tiếp tục làm cho chúng nổi tiếng hơn cả trong các loài cá sấu.

Giống như mọi loài cá sấu khác, chúng là động vật tứ chi với 4 chân ngắn và bàn chân bẹt đuôi dài và rất khỏe, da có vảy với các hàng mai hóa xương chạy dọc theo lưng và đuôi của chúng, và các quai hàm khỏe.

Cá Sấu Sông Nin

Chúng có màng nhầy để bảo vệ mắt của mình, và mặc dù có huyền thoại “về nước mắt cá sấu” nhưng chúng có tuyến lệ và có thể làm vệ sinh mắt bằng nước mắt.

Các lỗ mũi, mắt và tai nằm ở phần đỉnh của đầu chúng, vì thế các phần còn lại của cơ thể có thể che giấu dưới nước. Màu sắc cũng giúp chúng ngụy trang rất tốt: Những con non có màu xám, xanh ôliu sẫm hoặc nâu, với các dải màu nằm ngang sẫm hơn tên cơ thể và đuôi.

Khi chúng trưởng thành thì màu của chúng sẫm hơn và các dải màu nằm ngang mờ dần đi, đặc biệt là các dải màu trên cơ thể. Lớp da dưới bụng màu vàng và được sử dụng để chế tạo da cá sấu chất lượng cao.

Cá sấu sông Nin thông thường trườn dọc theo bụng của chúng, nhưng chúng có thể “nhảy cao”. Các cá thể nhỏ hơn có thể phóng nhanh, và thậm chí cả các cá thể lớn hơn cũng có khả năng tăng tốc độ đột biến đáng ngạc nhiên, đạt tới 12–14 km/h (7,5-8,5 dặm/h).

Chúng có thể bơi khá nhanh bằng cách chuyển động cơ thể và đuôi của chúng theo đường hình sin, và chúng có thể duy trì kiểu chuyển động này khá lâu.

Chúng có tim 4 ngăn, giống như chim, điều đó rất có hiệu quả trong việc chuyên chở và cung cấp ôxy cho máu của chúng. Thông thường chúng chỉ lặn trong vài phút, nhưng có thể ẩn mình dưới nước tới 30 phút nếu gặp nguy hiểm, và nếu chúng ngừng hoạt động thì có thể giữ cho hơi thở kéo dài tới 2 giờ dưới nước.

Chúng có sự trao đổi chất thuộc hệ máu lạnh, vì thế chúng có thể sống rất lâu giữa hai lần có thức ăn — vì thế khi ăn, chúng có thể ăn một khối lượng thức ăn bằng một nửa khối lượng cơ thể mỗi lần.

Chúng có thể phát ra các âm thanh trong một khoảng rộng và có cơ quan thính giác tốt. Trên da của chúng có một loạt các giác quan mà con người vẫn chưa hiểu hết, giúp cho chúng có phản ứng kịp thời với các thay đổi trong áp lực nước.

Quai hàm của chúng có khả năng tạo ra một lực mạnh khi chúng bắt giữ con mồi. Miệng của chúng có tổng cộng 64 – 68 răng hình nón. Trên mỗi hàm có 5 răng cửa, 13 hay 14 răng trên mỗi bên của hàm trên, và 14 hay 15 răng trên mỗi bên của hàm dưới.

Cá sấu moiứ sinh nhanh chóng mất đi mảnh da cứng trên đỉnh miệng của chúng gọi là răng trứng, do chúng sử dụng cái này để phá vỡ vỏ trứng để chui ra khi mới sinh.

Kích Thước Cá Sấu Sông Nin

Kích Thước Cá Sấu Sông Nin

Cá sấu sông Nin có thể dài tới 5 m, ít khi thấy chúng dài tới 5,5 m. Cá sấu trưởng thành nặng khoảng 225 kg, và có một số cá thể có thể nặng tới 700 kg.

Giống như các loài cá sấu khác, chúng là lưỡng hình theo giới, với con đực thông thường to hơn con cái khoảng 30%, mặc dù khác biệt này là nhỏ hơn so với các loài cá sấu khác, chẳng hạn cá sấu nước mặn.

Người ta cũng thông báo là có các cá thể dài tới 7 m và lớn hơn, nhưng điều này bị nghi ngờ do người ta thường hay thổi phồng các số liệu tổng thể.

Người ta vẫn chưa biết tại sao một số cá sấu sông Nin to lớn hơn các cá sấu sông Nin khác, nhưng có lẽ là do chúng có môi trường sống thích hợp hơn.

Vì thế cá sấu sông Nin ngày nay trong hoang dã khó có thể phá vỡ các kỷ lục: trước khi diễn ra các cuộc săn bắt trên quy mô lớn trong những năm thập niên 1940 và 1950, các quần thể lớn hơn sinh sống ở các môi trường đầm đất lầy có thể to lớn hơn bây giờ.

Có một số chứng cứ cho thấy cá sấu sông Nin ưa thích khí hậu mát mẻ. Các cá sấu sông Nin ở miền nam châu Phi nhỏ hơn, và chỉ dài khoảng 4 m.

Cá sấu sông Nin lùn cũng tồn tại ở Mali và sa mạc Sahara, chúng chỉ dài từ 2 – 3 m. Chúng suy giảm kích thước có lẽ là do không có môi trường sống lý tưởng, chứ không phải do di truyền.

Thức ăn và thói quen ăn uống của cá sấu sông nin

Thức ăn và thói quen ăn uống của cá sấu sông nin

Con sơ sinh ăn côn trùng và các loài động vật không xương sống nhỏ dưới nước, và nhanh chóng thích nghi với các thức ăn từ động vật lưỡng cư, bò sát và chim.

Tuy nhiên, 70% thức ăn của cá sấu sông Nin là cá, mặc dù những con cá sấu lớn có khả năng ăn thịt gần như bất kỳ động vật có xương sống nào khi chúng đi uống nước, ngoại trừ chỉ có voi và hà mã trưởng thành.

Chúng cũng ăn thịt ngựa vằn, hà mã non, trâu, linh dương, và thậm chí cả các động vật lớn thuộc họ Mèo và các con cá sấu khác.

Cá sấu sông Nin trưởng thành sử dụng thân hình và đuôi của chúng để dồn cá thành một bầy về phía bờ sông để ăn thịt chúng với những cú cắn ngang đầu chúng. Chúng cũng hợp tác để ngăn chặn cá di cư bằng cách tạo ra các cung tròn ngang trên sông. Những con cá sấu to lớn nhất được ăn đầu tiên.

Khả năng ngụy trang bằng cách ngâm mình dưới nước cùng với tốc độ cao trong những khoảng cách nhỏ giúp chúng có hiệu quả trong việc săn bắt các con mồi lớn.

Chúng ngoạm các con mồi như thế bằng trong các hàm cực khỏe và kéo con mồi xuống nước, và cố gắng giữ con mồi ở đó cho đến khi chúng bị chết đuối vì ngạt thở.

Chúng cũng sẽ ăn thịt các loài chết đã lâu, mặc dù chúng tránh không ăn thịt thối rữa. Các nhóm cá sấu sông Nin có thể bò hàng trăm mét xa nguồn nước để săn tìm thức ăn tươi sống.

Khi con mồi của chúng đã chết, chúng xé toạc và ăn từng tảng thịt to. Khi nhóm cá sấu sông Nin chia sẻ thức ăn, chúng sử dụng nhau như là đòn bẩy, cắn sâu vào cơ thể con mồi và sau đó vặn xoắn cơ thể chúng để tách ra những lớp thịt lớn.

Chúng cũng có thể tạo ra đòn bẩy cần thiết bằng cách hãm con mồi ở dưới các tảng đá hay cành cây, trước khi cắn xé và vặn mình.

Cá sấu sông Nin còn nổi tiếng với quan hệ cộng sinh với một số loài chim như choi choi. Theo các báo cáo, cá sấu há miệng rộng và sau đó các con chim choi choi sẽ rỉa các miếng thịt nhỏ còn rắt trong răng của cá sấu. Điều này rất khó kiểm chứng, nó có lẽ không phải là quan hệ cộng sinh thực thụ.

Khu vực sinh sống của cá sấu sông nin

Khu vực sinh sống của cá sấu sông nin

Khu vực sinh sống ưa thích của cá sấu sông Nin là dọc theo các con sông, trong các đầm lầy nước ngọt hoặc trong các hồ, trong một số trường hợp chúng sinh sôi ở các vùng nước lợ chẳng hạn dọc theo các cửa sông hay ở các vùng ngập lụt có đước mọc.

Chúng được tìm thấy ở các vùng của châu Phi về phía nam sa mạc Sahara, ở Madagascar và dọc theo lưu vực sông Nin. Theo dòng lịch sử thì chúng đã từng tồn tại trên quần đảo Comoros, nhưng ngày nay không còn.

Gần đây thôi cá sấu sông Nin còn hiện diện ở Israel, Jordan và Algérie. Sự vắng mặt của chúng ở nhiều nơi được quy cho là do sự mở rộng của khí hậu khô cằn và tương ứng với nó là sự suy giảm của các vùng đất ẩm ướt.

Người ta gần như không còn tìm thấy chúng ở vùng đồng bằng châu thổ sông Nin hay dọc theo các vùng ven bờ biển Địa Trung Hải. Khu vực sinh sống của chúng đã bị thu hẹp chỉ còn trong vùng sinh thái nhiệt đới châu Phi.

About Author /

Năm 1990, ông tốt nghiệp Kỹ sư Lâm nghiệp với tấm bằng thủ khoa. Đến năm 2000, Phạm Ngọc Tân chuyển sang công tác nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp tại Viện Khảo cứu Nông Lâm. Trước đó vào năm 1995, ông đã được các chuyên gia Liên Xô mời sang làm nghiên cứu sinh. Đến năm 1998, ông bảo vệ luận án Phó tiến sĩ ngành Sinh học, Phát sinh quần thể và phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Việt Nam.

Start typing and press Enter to search